Trường An huyễn dạ – Quyển 2 – Chương 3

Hương luyến ca – Thượng

Tam

Lư hương Bác Sơn trước mặt Cố Phi Quỳnh đã bị khói mờ trắng như mây lượn lờ che phủ. Làn hương như một dải tơ lụa lạnh mướt, rơi rũ xuống đầu vai và bên tai mỗi người. Khí lạnh âm thầm cuộn chảy toàn thân.

Đây rõ không phải sự mát lạnh của đàn hương, cũng chẳng phải sự dịu lạnh của trầm thủy hương. Khởi đầu bằng chút hương âm ấm say ngọt từ hương trầm, mới đó thôi lại chuyển hóa thành làn hương lạnh lẽo từ long não, hệt như mưa bụi tà tà rơi. Hương nhuyễn của tường vi, hương nồng của dạ hợp, hương thanh ngát của sen… Từng từng lớp lớp ảo ảnh như chồng chịt giăng đầy, thế mà khi vừa nhận rõ trong nháy mắt lại biến ảo tiêu tán. Hương thơm vừa tinh tế mà sinh động, chăng gửi kèm một phần cảm xúc buồn bã dâng đầy. (1)

(1):
-đàn hương: là một loại gỗ, có hương thơm. Đàn hương sinh trưởng chậm, phải hàng trăm năm mới dùng được.

-trầm thủy hương: còn gọi là trầm hương, khác biệt với đàn hương, bản thân trầm thủy hương không phải là gỗ. Trầm thủy hương được sinh ra từ phần gỗ chứa nhiều nhựa thơm của một số loại cây mọc sâu trong rừng già. Một số loại cây được biết cho đến nay có thể sản sinh ra trầm thủy hương là cây dó ở Việt Nam, cây trầm hương Malaysia, trầm hương Ấn Độ.

-hương trầm: (cái này lại khác với trầm hương nhé ==” ) là một loại cây có hương thơm xuất phát từ Ả Rập và Bắc Phi, được trao đổi buôn bán với châu Âu, Ai Cập, Trung Quốc… từ xa xưa.

-long não: là một cây thân gỗ, lớn, có thể cao đến 20-30m, khi vò lá cây sẽ ngửi thấy mùi long não.

Ngày xưa người ta có câu “Trầm đàn long xạ” tức chỉ trầm thủy hương, đàn hương, long tiên hương, xạ hương.

-tường vi, dạ hợp là tên hai loài hoa
( lát nữa cuối chương sẽ chú thích hình hen)

Như thể đáp trả lại lời mời gọi của hương, càng ngày càng nhiều đốm sáng xanh tụ tập – chính là thứ khi nãy xuất hiện ngoài đình, những con bướm nhỏ bé như ánh trăng vụn vỡ tan.

Chúng vỗ cánh theo con đường của khói vờn, đôi cánh tinh tế hệt bụi mỏng, nơi ánh đèn thấp thoáng phản chiếu những luồng sáng mỏng lạnh căm. Lẽ chăng là hương thơm đang đan dệt một tấm lưới lớn, vây bắt những tinh linh đến từ thế giới khác này?

Khứu giác lúc trước không thông giờ đây đã khôi phục lại, Lý Lang Gia chợt rùng mình.

Anh thật kinh ngạc: vì sao càng ngửi thấy mùi hương rõ ràng thêm, lại càng cảm thấy rõ khí lạnh đáng lẽ chẳng thể xuất hiện tại đêm hạ thêm rõ nét? Cứ như thể ánh nến không thể soi rọi đến sâu trong cung cấm, gió thổi tới từ hành lang gấp khúc sơn son gần như là loại tịch mịch đến tuyệt vọng, là loại chấp niệm đã muốn biến thành thể rắn có thể cầm nắm… Các loại cảm xúc ấy bị giam cầm trong mùi hương, dần dần muốn phá kén xông ra.

Bỗng dưng gió đêm mang theo hơi ẩm mát từ sông suối cuộn vào thủy đình, màn lụa mỏng trước mắt Lý Lang Gia nhẹ phe phất qua, trong nháy mắt cuốn đi tầm nhìn của anh về phía ngoài, này những bươm bướm sắc xanh của nước, xinh đẹp là thế, hòa tan vào ánh trăng tự bao giờ.

Ngạc nhiên quay đầu lại nhìn, Lý Lang Gia phát hiện, đứng lẳng lặng ngay chỗ màn bị xốc lên kia sau lưng mình, chính là An Bích Thành một mặt lãnh đạm. Cậu chăm chú nhìn người phụ nữ đang ngồi ngay ngắn giữa hương khói lượn lờ, tuyệt nhiên chẳng màng đến mọi người xung quanh mình trên mặt một vẻ giật mình tỉnh giấc, như thể cô đang trong hồi ức nào đấy.

“…Vốn nghĩ rằng năm nay có thể đạt danh hiệu “Bậc thầy chế hương”, thế như tài nghệ của Cố chân nhân vẫn như cũ không cho đối thủ cơ hội nào cả…” Sau một lúc im lặng, một ông lão áo dài ngồi giữa vuốt râu dài cười khổ: ” ‘Lục hoa’ và ‘Lan hương’ của lão phu cũng khó lòng so cao thấp.”

Những tiền bối trong giới chế hương biết khó mà lui, rõ ràng ảnh hưởng lòng tự tin của những người tham gia bình phẩm, có vẻ mặt không cam lòng, nhưng ai có thể phủ nhận dư âm ảo mộng của hương thơm kia – quả thật là trình độ cao sâu, cũng lại càng thêm lộ rõ ý thơ đẹp đẽ mà đau thương của làn hương, đây đã vượt xa cảnh giới “tài nghệ” rồi.

Trước mặt là những vị trọng tài đang bàn luận với nhau, dĩ nhiên là kết quả đã xong đâu đấy, chú ý ánh mắt mọi người chuyển hướng về mình, Lý Lang Gia bất an thanh giọng: “… Xin hỏi Cố chân nhân, hương này, gọi là gì? Chắc hẳn là một cái tên rất đẹp?”

Dường như sóng mắt cô có xoẹt qua một làn dao động, khuôn mặt nghiên đầu suy tư của Cố Phi Quỳnh rất đẹp, Lý Lang Gia vô cớ nghĩ, người phụ nữ như sương khói ngưng kết này, ánh mắt sắc bén, là một người thâm sâu khó dò.

“Tên của nó là ‘Thiên thu tuế’ ”

Cố Phi Quỳnh thản nhiên mở miệng, bên đôi môi đỏ thắm kiều diễm lại là một ý cười ưu sầu. “Đời người như sương như khói, thứ tốt đẹp nhất còn lại chính là hồi ức, chẳng ai cam lòng quên đi, mong mỏi nghìn thu muôn thưở làm bạn bên người… Thật hoài công, nhưng cùng mùi hương này giống nhau.”

“…Thế nhưng, hương thơm như vậy, không phải đau buồn quá sao?” Lý Lang Gia không khỏi buột miệng, lập tức hối hận mình ăn nói đường đột.

“…Ý tôi là, hương thơm này tuyệt diễm như vậy, nhưng buồn đau như vậy, cứ như kêu gọi một người đã chẳng thể quay về… Làm bạn cùng hồi ức như thế, không phải rất khổ sở sao?”

Nét cười vừa che giấu đau thương vừa xuất hiện trên mặt Cố Phi Quỳnh, nay chỉ còn khuôn mặt lạnh như băng trôi. ” Sự đau buồn, sự khổ sở, người từng trải khắc tự hiểu. Cửu điện hạ suốt đời sung sướng, thấu hiểu đương nhiên có giới hạn – người ngoài nghề lý giải việc chế hương, quả nhiên không thể kỳ vọng quá cao.”

Dùng gịong điệu mềm mỏng như nước nói ra lời mỉa mai, vẻ kiêu ngạo và khiêu khích càng làm cho người ta khó có thể chịu nổi, vốn Lý Lang Gia đã không tự tin trong lĩnh vực này, bị bảo “người ngoài nghề” khiến anh nhất thời mở miệng không trả lời được, nhìn hai bên trái phải cầu cứu.

“Trực giác của người ngoài nghề, thông thường lại càng thêm chính xác đấy.” An Bích Thành cứu nguy mở miệng.

“Ý kiến trong nghề bao giờ cũng chính xác thì thật nhàm chán – ví dụ như, hương liệu mở đầu cho mùi hương ‘Thiên thu tuế’ này là trầm thủy hương, nhưng rõ ràng không phải được khai thác từ ngọai quốc phương Tây, lẽ nào thứ mà Cố chân nhân sử dụng, là trầm hương tuyệt đỉnh của nhai châu Nam Hải? Hương thơm say ấm mà thanh mát như vầy – thực sự là hồi ức chỉ có thể gặp mà chẳng thể cầu nha…”

Xung quanh chợt vang lên những giọng tán thán nhỏ nhỏ – lấy trầm thủy hương làm hương liệu điều chế, thông thường đều từ con đường biển gọi “Đường hương liệu” đến chợ Tây Trường An. Xuất phát từ Chiêm Thành, là mặt hàng cao cấp trả bằng hoàng kim, chuyện này cũng không lạ lẫm gì. Nhưng xuất xứ từ nhai châu của vùng đất tận cùng phía nam Đại Đường, là nơi ở của quỷ núi yêu ma, nơi của hồ sâu núi hiểm, trầm hương ở đấy mới đúng là hương liệu ngàn vàng khó tìm – thảo nào mùi hương của ‘Thiên thu tuế’ độc nhất vô nhị ngập tràn đến vậy!

Lý Lang Gia lặng lẽ thở ra, thật tình mong muốn khen ngợi vị điều chế hương hoàn mỹ mà khó chịu khi nãy – nhưng khi anh ngẩng đầu lên, phát giác không khí có chút kì quái .

Trong mắt Cố Phi Quỳnh có sắc thái thật kỳ lạ, dường như vẫn duy trì góc độ đoan trang như ngọc. Mà tư thế đứng dựa của An Bích Thành cũng chẳng thay đổi, cậu chậm rãi mở ra cây quạt màu xanh ánh vàng, bày ra một dáng vẻ tươi cười phong nhã không thể chê vào đâu được: “Rốt cuộc là hồi ức dạng gì đây? Êm đềm dịu ngọt mà nguy hiểm quá, bướm lưu ly ở ngoại quốc cũng kìm lòng không đặng mà bị hấp dẫn kìa…”

Giống như người chơi cổ cầm nhấn dây luyến âm, ngón tay thon dài trắng noãn của Cố Phi Quỳnh run lên. Hộp đựng hương nho nhỏ màu đen khảm xà cừ trong tay rớt xuống, những viên hương màu đen như ngọc lưu ly lăn lóc, mùi hương nồng nặc và trong mát cùng lúc xộc lên hòa lẫn, Lý Lang Gia nghĩ hô hấp trong nháy mắt muốn bị tắc, anh nghe âm thanh của mình phát ra khó khăn: “Cái gì…Cái gì là bướm lưu ly?”

” Là loại bướm đuổi theo mùi hương đó, dựa theo lẽ thường, chúng nó sinh sống tại ốc đảo Samarkand. Những người Tây Vực yêu thích đá quý đều mê mẩn vẻ mỹ lệ của chúng, bắt chúng gọi là ‘Đát nga nạp’ – ‘Lưu ly xanh’. (2) Nhưng trong tiếng Ba Tư cổ, còn có một hàm nghĩa khác…”

“—— còn có hàm nghĩa là “Ánh đèn âm phủ”, là sứ giả chỉ dẫn vong linh qua cầu ly biệt – cô nghĩ tôi là ai nào? Chỉ có con mắt Ba Tư trưng diện?”

Cố Phi Quỳnh cười lạnh tiếp nhận những gì An Bích Thành đã nói, vẻ nhu hòa trên nguời cô dần mất đi, chỉ còn lại ánh sáng xanh lạnh thấu xương xung quanh, từ sâu trong mắt cô lộ rõ, tương tự như đôi cánh của ‘Đát nga nạp’, màu sắc mê ly mà nguy hiểm…

An Bích Thành khẽ cười dùng quạt gõ gõ lòng bàn tay “—ai, hình như tôi quên chức trách trọng tài của mình rồi! Cần phải có một câu thơ cổ miêu tả mùi hương nữa mới phải~” âm thanh cậu vang lên hơi dò xét mà đầy trang trọng – “Phan Nhạc chẳng cần phú điệu vong, nhân gian khó kiểm Phản hồn hương!”(3)

(2):
-Samarkand (Tát Mã Nhi Hãn): hiện giờ là thành phố lớn thứ hai ở Uzberkistan, ngày xưa nằm ngay trên con đường tơ lụa.

-Đát nga nạp: đúng ra nó là Radha e carolina, nhưng thấy cái tên này nó ba trấm quá nên ==’ với lại Xích không tra ra được Radha có liên quan gì đến ngọc lưu ly. Carolina ý chỉ màu xanh carolina ( màu xanh của mấy con bướm này đó).

(3):
-Nguyên văn: “Phan Nhạc hà tu phú điệu vong, nhân gian vô nghiệm phản hồn hương!”, nghĩa là Phan Nhạc nào cần làm bài phú khóc thương vợ, phản hồn hương nhân gian không kiểm nghiệm được.

-Về chuyện phản hồn hương thì Xích đang kiểm chứng lại mấy tư liệu, chẳng qua là có chỗ bảo người chết trong vòng 3 ngày đốt hương này thì sống lại, có chỗ lại nói là 3 tháng =”= Tóm lại là người bệnh đốt hương này thì khỏi, người chết trong 1 khoảng thời gian thì sống lại.
Truyền thuyết về nó bắt đầu từ chuyện một vị sứ giả Ba Tư dâng hương cho Hán Vũ Đế nhưng bị ông này chê tầm thường, sau đó đem giam lỏng vị sứ giả. Khi 1 vị Lý phu nhân kia chết, Hán Vũ Đế mới cầu vị phản hồn hương của vị sứ giả nọ, nhưng mà tất nhiên là Lý phu nhân cũng không sống lại tốt lành gì cho lắm ( vụ này có nhiều bản kể quá – với lại chi tiết có trong phần Phản hồn hương ở Trường An huyễn tưởng sự điển đó – Xích edit hoài mà chưa xong nổi bản đó =)) vẫn còn để trống link ở mục lục)

-Còn câu thơ kia thì ( =”= ) xuất phát từ một điển tích về Trương Bích Nương. Đại khái là Lâm là một người đọc sách, ở một căn nhà bên núi (tóm lại anh giống như trạch nam), một hôm được 1 cô hỏi làm chồng cô được không, anh này đơ người, sau này hỏi ra mới biết là Trương Bích Nương. Còn Trương Bích Nương là con nhà gia giáo, xinh đẹp, con trai trong vùng đến xin cưới hỏi đông nườm nượp. Rồi sau đó dây dưa… đến một hôm Lâm phải đi nên chia xa. Trương bệnh nặng, Lâm hay tên chạy về, đau lòng, làm một bài thơ. Câu thơ này trong cái bài đó. Bạn nào biết tiếng Trung làm ơn coi giùm Xích, Xích thì hiểu chuyện vậy thôi, link đây.

-Phan Nhạc kia thì ý chỉ Phan An( nhà thơ thời Tây Tấn aka mỹ nam nổi tiếng đấy ạ), vì khi vợ Phan An chết ông có làm rất nhiều bài phú khóc thương vợ.

===

Đàn hương
Đàn hương
Trầm thủy hương
Trầm thủy hương
Long não
Long não
Hương trầm
Hương trầm
Tường vi
Tường vi
Dạ hợp
Dạ hợp

Chương này chết với mấy cái chú thích ==’ baike mỏi tay

2 thoughts on “Trường An huyễn dạ – Quyển 2 – Chương 3

Nhắn gửi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s